Main » 2012 » June » 27 » Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 7)
1:52:05
Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 7)

Ark of the Covenant Discovery, Part 7

Hòm Giao Ước, P.7


Time Passes By _Thời gian trôi qua


Danny and Ronny were now young men with lives of their own.  They both entered into specialized areas of construction work and had responsibilities which didn't allow them the luxury of taking off work to travel back and forth to the Middle East.  With the passageway that led to the chamber that held the Ark now solidly blocked, Ron had to rely on others to help with the work.  Since the time I entered the picture (1988) I've seen the hazards of having to rely on people Ron didn't know too well. Sometimes Ron had wonderful volunteers who were willing to follow instructions and abide by the rules.  Other times people who seemed like nice, trustworthy folks turned out to be a curse instead of a blessing.  The Ark of the Covenant seemed to attract its fair share of those who had their own agenda. Danny và Ronny lúc bấy giờ  đang là hai thanh niên cũng cần cuộc sống riêng. Cả hai đứa bắt đầu đi làm những công việc bên ngành xây dựng và phải cần có trách nhiệm trong công việc nữa, điều đó không cho phép hai đứa có nhiều thời gian + tiền của để cứ phải bay tới bay lui, tới Trung Đông vậy hoài. Còn Ron thì loay hoay với việc đường vào cái hốc đá có chứa Hòm thánh bị bịt kính như thế, Ron đã phải dựa vào những người giúp đỡ khác. Từ lúc tôi quan tâm đến chuyện của ổng đang  làm vào năm 1988, tôi nhận thấy những mối nguy hiểm khi Ron phải dựa vào những người mà ổng không biết rõ. Đôi khi Ron có những người tình nguyện hết sức tuyệt vời, họ là những người tuân theo những sự hướng dẫn và tuân thủ quy tắc làm việc. Lúc khác lại có những người dường như tốt bụng lắm, đáng tin cậy lắm, đùng một cái hóa ra người đáng bị nguyền rủa hơn là được chúc phước. Hòm Giao Ước dường như thu hút sự quan tâm đến việc chia chác (chia của nếu tìm được) của những ai đang có mưu đồ riêng.


More Work in the Cave System _ Thêm nhiều việc trong hệ thống hang động


Ron decided to continue to search for the original entrance into the chamber from within the cave system.  With better hi-tech equipment, such as radar, he was able to detect voids behind solid rock walls which was extremely useful.  From one particular location within the cave system, he KNEW he was within a certain number of feet of the chamber- but getting from point A to point B through many, many feet of solid limestone just wasn't that easy.  He followed many false leads, such as a rock wall they found within the cave system which followed along the contour of the cliff-face, just as the wall of the chamber had done.  But this lead didn't pan-out. Ron quyết định tiếp tục tìm kiếm lối vào nguyên thủy đến hốc đá từ bên trong hệ thống hang. Với công cụ hỗ trợ công nghệ cao, như là Ra-đa, ông ấy có thể dò tìm những khoảng trống phía bên trong những vách đá vững chắc một cách thật hữu ích. Từ một vị trí cụ thể bên trong hệ thống hang động (không thể tiết lộ địa điểm được), ông biết ông đang ở tại một vị trí cách nhiều feet để đến được cái hốc đá đó- nhưng từ điểm A đến được điểm B, phải qua nhiều nhiều feet (1 feet =0.3048 mét) của lớp đá vôi cứng, thật không dễ dàng gì. Ông đã bị dẫn đi sai đường nhiều lần, vì dụ: như việc một tường đá họ tìm thấy nằm bên trong hệ thống hang dẫn ông đi lòng vòng quanh cái vách đá, như thể là cái bức tường của cái hốc đó vậy là hết rồi. Nhưng nó chẳng dẫn đi đến đâu hết.


I couldn't understand the problem when Ron tried to explain everything to me - that is until I went into the cave system myself.  As I entered the small hole, I expected to find myself in a large cave, like the ones I had been in as a child.  Instead, I discovered the small hole went through a jagged shaft about twenty-five feet STRAIGHT DOWN - I had to hold onto a rope and sort of rappel off the rocks.  Exiting the shaft, I found myself standing on some wooden planks which was the only "floor" and it was quite small - the open cavern continued on another forty or more feet beneath me.  It was nothing like I had expected.  By the time I had twisted and turned, trying to conform my body to the narrow shaft which led into this area, I discovered that I had absolutely NO idea of what direction I was facing.  Without a compass, I was completely disoriented.  Then, when I went through a couple of the small openings from the main chamber, I was absolutely amazed at how tight the areas were.  Tending a bit toward claustrophobia, I had a brand new respect for Ron, Danny and Ronny - I couldn't imagine how they did it, and I still can't. Tôi đã không thể hiểu vấn đề mà Ron đang cố giải thích đủ thứ  để cho tôi hiểu- cho đến khi tôi đi vô cái hệ thống hang động đó một mình. Khi tôi chui vào cái lỗ nhỏ, tôi cũng mong là tự mình tìm ra một cái hang to, giống như những cái hang mà hồi bé tôi từng chui vào. Thay vào đó, tôi lại phát hiện ra một lỗ nhỏ nằm xuyên qua thân một cái  đường ống có mép lởm chởm thẳng đứng xuống độ chừng 25 feet (7.62m)_ tôi đã phải giữ chặt một cái dây thừng, và đu dây leo ra khỏi cái ống đó. Khi tôi thoát ra khỏi cái đường ống, tôi thấy mình đang đứng trên mấy cái miếng ván gỗ mà nó chỉ là "cái sàn” và khá nhỏ - Cái đường ống đó còn sâu xuống chắc cỡ 40 feet (12.192m) hay hơn 40 feet gì đó ngay bên dưới tôi. Nó không giống những gì tôi đã tưởng tượng. Lúc mà tôi cứ xoay rồi vặn người, cố gắng làm cho người mình phù hợp vói cái đường ống chật hẹp đó dẫn đến chỗ khu vực này, tôi mới thấy 1 điều: tôi hết biết là tôi đang quay mặt về hướng nào luôn! Không có la-bàn, tôi hoàn toàn mất phương hướng. Sau đó, tôi chui qua cái một vài cái lỗ từ trong cái hầm chính, tôi mới thật sự ngạc nhiên thấy những khu vực này nó nhỏ làm sao!. Cứ nghĩ mình sẽ bị kẹt lại ở đây, mới thấy thán phục Ron, Danny và Ronny – Tôi không tài nào tưởng tượng được họ đã làm thế nào ở đây, còn tôi thì chịu!


I had earlier thought, "If you know how many feet it is to a certain point, why don't you just measure it and go there?"  But now, I understood why.  In the tight confines, with cave walls and rocks everywhere, it seemed impossible to measure anything. Or even knowing the correct direction seemed impossible to me.  Of course, Ron had worked in these caves and tunnels for so many years, he pretty much knew it like the back of his hand, but this was not going to be easy. Trước đây tôi từng có ý nghĩ là : "Nếu ông  biết ông cách chỗ đó (cái hốc có chứa Hòm Thánh) bao nhiêu feet, vậy tại sao ông không đo đi rồi đi thẳng lại chỗ đó thôi?!”. Nhưng giờ thì tôi đã hiểu ra nguyên do. Trong mấy cái chỗ giam mình chật hẹp đó, với những vách hang và đá khắp nơi, thì dường như chẳng cách nào để đo cả. Thậm chí với tôi, định ra được hướng đúng đã là không thể rồi. Tất nhiên với Ron, ông đã làm việc ở những hang và đường hầm thế này nhiều năm rồi, nên ông cũng biết chút ít về nó như biết về mu bàn tay mình (không phải biết rõ như biết lòng bàn tay!!!), nhưng điều này chẳng dễ dàng tí nào.

 
(Tác giả trước lối vào bị bịt kín)
Impending Doom Ngàn Cân treo sợi tóc

In addition to searching within the cave system, Ron took his team to the blocked-up tunnel entrance in the quarry to open it.  Upon removing the blocks, there WAS the void Ron had detected with the radar as we explained earlier, and then the tunnel was plugged.  So, Ron crawled inside and began to remove the rocks and debris, passing the buckets down to the next person, who passed it to the next, etc., until the last person who dumped or disposed of the contents. (This is the same method they used inside the cave system - the "bucket brigade" we called it, sometimes consisting of ten or more people.) Nói thêm về việc tìm kiếm trong hệ thống hang động, Ron dẫn nhóm tìm kiếm đến cái lối vào đường hầm bị bịt kín nằm bên trong mỏ đá để khai thông đường vào. Bằng việc tháo dỡ những tảng đá, để lộ ra một khu vực trống rỗng (bộng) y như  dự đoán của Ron khi ông đã dùng radar để dò tìm trước đây mà chúng tôi có lần giải thích (xem hình)

Sau đó đường hầm bị tắc nghẽn. Vì thế nên Ron bò vào trong và bắt đầu khai thông đá và xà bần, sau đó chuyển cái xô đất đá cho người thứ hai, người thứ hai chuyển cho người thứ ba…., đến người cuối cùng đổ đi. (Đây giống phương pháp họ đã làm bên trong hệ thống hang- cái "cầu nối” chúng tôi tạm gọi như thế, đôi khi "cây cầu nối” này lên đến 10 người hoặc hơn)


As I was writing this, Ron reminded me of an experience he had during this time. While clearing the tunnel with a group of good friends from Florida, he suddenly was struck with a feeling of impending doom or disaster.  He told everyone about this impression, and explained that he didn't know what was going to happen but that they all needed to quickly pack up the equipment and get out of there.  All the guys did as he said, and just as they started walking out, everyone heard a loud booming thud coming from the area of the tunnel.  A huge boulder in the ceiling of the tunnel had fallen right where Ron had been sitting. Khi tôi đang viết bài này, Ron nhắc tôi một kinh nghiệm mà ông đã gặp phải trong suốt thời gian này. Trong khi đang khai thông đường hầm với nhóm những người bạn tốt đến từ Florida, ông bất chợt bị một cảm giác ám ảnh là có một tai nạn nào đó sẽ đổ ập xuống đầu. Ông cảnh báo mọi người về nổi ám ảnh này, và ông giải thích là ông không biết chuyện gì sẽ xãy ra nhưng tất cả mọi người cần mau chóng thu xếp và ra khỏi đó mau. Tất cả mọi người đều làm như lời ông nói, và vừa khi họ bắt đầu đi ra, mọi người nghe một tiếng "bùm” rất lớn phát ra từ chỗ cái đường hầm đó. Nguyên một tảng đá cuội to lớn từ trên trần của đường hầm sụp xuống ngay chỗ mà Ron đã ngồi trước đó.


They returned the next day and Ron simply broke up the boulder and removed it - the feeling of "doom" was gone and they continued working.  But the debris plugging the hole appeared to have no end.  They replaced the blocks exactly as they had found them and gave up, at least for the time being.  For now, we have no idea if the tunnel is completely blocked the entire way, or even if it is the correct tunnel.  However, the last time Ron went back into the tunnel, Ronny was able to take time off work and return with him - and Ronny found a Roman coin with Tiberius on it which indicates that the tunnel was opened in Roman times but then resealed.  We could not find this particular coin in our list of Imperial Roman coins and therefore assume that the coin was a city coin. Ngày hôm sau, họ quay trở lại, và Ron phá vỡ cái tảng đá đó và di dời nó đi. Cảm giác bị đổ sập không còn nữa, và họ tiếp tục làm việc. Nhưng khi họ thấy đất đá vụn (xà bần) chặn lối vào còn hoài không hết. Họ lắp nó lại với những khối đá khác để thay thế (những gì họ lấy đi) y chang như nhưng gì đầu tiên họ nhìn thấy (trước khi khai thông), và bỏ cuộc, ít nhất là vào thời gian đó. Còn bây giờ, chúng tôi không biết là cả đường hầm đó bị lấp lại hoàn toàn rồi hay chưa, hay là giờ nó đã được khai thông rồi thì không biết. Tuy nhiên, lần sau cùng Ron quay lại đó, Ronny cũng có thời gian nghĩ phép nên cùng quay lại vơi cha- Rồi Ronny đã tìm thấy một đồng xu La-mã có hình Hoàng Đế Tiberius trên đó, điều này cho thấy đường hầm đó được mở (đào) vào thời kỳ La-mã và họ đã lắp lại. Chúng tôi không tìm thấy đồng xu đó giống với đồng xu nào của Đế Chế La Mã mà chúng tôi có khi đối chiếu, vì thế nên chúng tôi đoán là đồng xu đó là đồng xu có giá trị địa phương mà thôi (trong thành đó thôi)


Digging Straight Down _Đào thẳng xuống


Ron's last resort was to attempt to dig a shaft through the solid rock into the chamber that held the Ark and other objects. But this was a very precarious (liều) approach - the shaft could cave in and damage some of the objects, or they could expend all that effort and discover they had missed the chamber.  It would be a tremendous undertaking, requiring a large amount of work.  But one time after his main excavation team had left to return home, Ron and a couple of faithful assistants began the shaft.  They now had jackhammer-drills and much better equipment than he and the boys had used during the early years.  They began drilling the shaft and penetrated about ten feet of solid limestone during several excavation periods but the end didn't seem anywhere in sight.  Ron experienced something that is common to the human species - he became frustrated at the tremendous effort and expense that appeared to be yielding absolutely nothing. Kế sách cuối cùng của Ron là cố gắng đào một đường ống thẳng xuống xuyên qua lớp đá dày cứng  để vào trong cái hầm có chứa Hòm Giao Ước và những thứ khác. Nhưng đây là cách quá liều lĩnh không chắc ăn- cái đường ống có thể tạo thành cái hang và làm hỏng một số đồ bên trong hốc đá; hoặc là họ phải nổ lực hết sức và cuối cùng thì đào trật không trúng cái hốc đá đó. Đây sẽ là một việc to lớn khác thường mà đòi hỏi một số lượng lớn nhiều công sức. Nhưng sau khi công việc đào chính lần trước, nhóm người đã bỏ về nhà, Ron và còn lại đôi ba người còn chung lòng ở lại giúp sức bắt đầu đào đường ống. Bây giờ họ có những cái khoang búa và một số công cụ tốt hơn nhiều so với thời mà Ron và hai đứa con làm cách trước đó nhiều năm. Họ bắt đầu khoan đường ống và thâm nhập vào trong đá vôi khoảng 10 feet (hơn 3m tí) với nhiều lần khoan, và bên trong đó dường như không có điểm kết thúc. Ron đã trãi qua một điều mà loài người ai cũng thế_ ông bắt đầu nãn lòng với những nổ lực và tiền của bỏ ra quá lớn, mà giờ hóa ra chẳng được gì hết.
 
Of all the projects Ron has worked on and the discoveries he has made, his sense of unworthiness to work on the Ark of the Covenant was, and is, ever-present in his thoughts.  The biblical examples of those who did a work for God but at some time or another failed in some manner (such as the time Moses struck the rock when he was told to SPEAK to it, which cost him the privilege of being allowed to enter the promised land) are vivid reminders to Ron of how serious the consequences could be if he should allow any of his actions or motivations to go against God's will. Sometimes, it was easy to discern his course of action, but other times it wasn't. Plus, he reasoned that if the time came that he had failed and God could no longer use him, how would he know? And by this time, he was beginning to wonder if he was being taken off the job.  He has always known that God didn't NEED him to get His work done - He could always find someone else.  His efforts didn't seem to be paying off - it had now been almost ten years since he first found the Ark. Với tất cả kế hoạch mà Ron đã làm và những phát hiện mà ông đã có, ông vẫn cứ có cảm giác công việc mình đã và đang tìm Hòm Giao Ước thật không đáng, cảm nghĩ đó vẫn  luôn ở trong đầu ông. Những tấm gương trong Kinh thánh vể những người làm việc cho Chúa nhưng đôi lúc nãn lòng thối chí (ví dụ như Môi-se, đã đập cây gậy vào đá thay vì là ông phải nói với khối đá, điều này ông phải trả giá là không được phép vào trong đất hứa)  đó là những tấm gương cứ luôn nhắc nhở Ron rõ ràng là cần phải nghiêm túc trong hành động và trong động lực nếu ông  đang đi ngược lại Ý của Ngài. Đôi khi, ông dễ dàng nhận thức ra được hành động của mình, nhưng đôi lúc không thể. Thêm nữa, ông nêu lý do rằng nếu như ông đã làm gì sai lầm, và Chúa không muốn dùng ông nữa, thì làm sao ông biết được điều đó? Và lúc này, ông tự hỏi rằng liệu ông có bị loại khỏi công việc này hay không? Ông đã luôn biết rằng Chúa đã không cần ông phải hoàn thành công việc này – Ngài luôn có thể sử dụng người khác để thay thế ông mà. Nổ lực của ông dường như không được ban thưởng – tính từ lúc ông bắt đầu tìm kiếm Hòm Giao Ước đến bây giờ (thời điểm tác giả viết bài này) cũng đã gần 10 năm rồi còn gì.





CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN KHÁC:

  1. Hòm giao ước được tìm thấy (Mở đầu)
  2. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 1)
  3. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 2)
  4. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 3)
  5. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 4)
  6. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 5)
  7. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 6)
  8. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 7)
  9. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 8)
  10. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 9)
  11. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần 10)
  12. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần Phụ lục - P1)
  13. Hòm giao ước được tìm thấy (Phần Phụ lục - P2)


Category: Hòm Giao Ước được tìm thấy | Views: 1348 | Added by: khaocokinhthanhvn | Rating: 0.0/0
Total comments: 0
Name *:
Email *:
Code *:
Login

Calendar
«  June 2012  »
SuMoTuWeThFrSa
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
Entries archive
Our poll
Rate my site
Total of answers: 2
who's online?

Total online: 1
Guests: 1
Users: 0
hit counters